Tầng 9 Tòa nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0901 333 341

|

CỔ PHẦN TĂNG GIÁ TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG KHÔNG?

0
(0)

Một người mua cổ phần trước khi kết hôn với giá 2 tỷ đồng. Sau nhiều năm hôn nhân, giá trị số cổ phần này tăng lên 6 tỷ đồng. Khi vợ chồng ly hôn, bên còn lại cho rằng cổ phần tăng giá trong thời kỳ hôn nhân thì phần tăng thêm phải là tài sản chung.

 

Đây là một quan điểm dễ hiểu nhưng không phải lúc nào cũng chính xác.

 

Trong thực tế, việc xác định quyền của vợ chồng đối với cổ phần không thể chỉ dựa vào giá mua ban đầu và giá trị tại thời điểm ly hôn. Cần phân biệt bản thân cổ phần được hình thành từ nguồn tài sản nào, cổ phần được mua vào thời điểm nào, giá trị tăng thêm xuất phát từ đâu và trong thời kỳ hôn nhân có phát sinh cổ tức, lợi tức hoặc khoản thu nhập nào từ số cổ phần đó hay không.

CỔ PHẦN TĂNG GIÁ TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG KHÔNG?

Cổ phần có trước hôn nhân về nguyên tắc là tài sản riêng

Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn là tài sản riêng của người đó. Vì vậy, nếu một người đã sở hữu cổ phần trước thời điểm đăng ký kết hôn thì về nguyên tắc, chính số cổ phần đó được xác định là tài sản riêng.

 

Điều này vẫn có thể được giữ nguyên ngay cả khi giá trị cổ phần tăng đáng kể trong thời kỳ hôn nhân.

 

Ví dụ, trước khi kết hôn, người chồng sở hữu 100.000 cổ phần với tổng giá trị 1 tỷ đồng. Sau 10 năm, giá thị trường của số cổ phần này tăng lên 5 tỷ đồng. Việc giá trị tăng từ 1 tỷ lên 5 tỷ đồng không tự động biến toàn bộ 4 tỷ đồng chênh lệch thành tài sản chung của vợ chồng.

 

Lý do là cần xác định nguyên nhân của sự tăng giá. Nếu đây chỉ là sự biến động giá trị của tài sản riêng trên thị trường thì không thể đơn giản đồng nhất khoản chênh lệch đó với thu nhập hoặc tài sản được tạo lập từ công sức chung của vợ chồng.

 

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa mọi lợi ích phát sinh từ cổ phần riêng đều mặc nhiên là tài sản riêng. Đây là điểm cần phân biệt.

 

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Do đó, cổ phần là tài sản riêng nhưng khoản thu nhập thực tế phát sinh từ việc sở hữu cổ phần trong thời kỳ hôn nhân có thể được xác định theo chế độ tài sản chung.

 

Chẳng hạn, người chồng có cổ phần riêng trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân nhận cổ tức bằng tiền. Khoản cổ tức đó cần được xem xét riêng với bản thân số cổ phần. Không thể chỉ vì cổ phần là tài sản riêng mà mặc nhiên cho rằng mọi khoản tiền nhận được từ cổ phần cũng là tài sản riêng.

 

 

Giá cổ phần tăng không giống với thu nhập hoặc lợi nhuận thực tế nhận được

Giả sử cổ phần có giá trị 2 tỷ đồng khi kết hôn và tăng lên 5 tỷ đồng khi ly hôn. Ba tỷ đồng chênh lệch chưa chắc đã tồn tại dưới dạng một khoản tiền hoặc lợi nhuận mà người sở hữu đã thực tế nhận được.

 

Nếu cổ phần vẫn được nắm giữ và giá tăng do thị trường định giá cao hơn, đây mới là sự tăng giá của tài sản. Người sở hữu chưa thực hiện giao dịch bán để thu về khoản tiền tương ứng.

 

Ngược lại, nếu người sở hữu bán cổ phần với giá 5 tỷ đồng, nhận tiền và tiếp tục sử dụng số tiền đó để mua bất động sản, góp vốn hoặc đầu tư vào một tài sản khác thì việc xác định nguồn gốc tài sản mới phải được xem xét cụ thể.

 

Do đó, trong tranh chấp ly hôn, không nên đặt câu hỏi đơn giản rằng “cổ phần tăng giá trong hôn nhân có phải tài sản chung không?”. Cần đặt ra một chuỗi câu hỏi đầy đủ hơn: cổ phần có từ đâu, được mua bằng tiền của ai, thời điểm nào, có phát sinh cổ tức hay lợi tức không, giá trị tăng do yếu tố thị trường hay do việc sử dụng nguồn lực chung và hiện tại cổ phần còn tồn tại hay đã được chuyển đổi thành tài sản khác?

 

Nếu cổ phần được mua bằng tiền chung trong thời kỳ hôn nhân thì vấn đề lại hoàn toàn khác. Khi đó, ngay từ đầu cần xem xét số cổ phần là tài sản chung, không phải chỉ phần giá trị tăng thêm.

 

 

Công sức của người còn lại cũng cần được xem xét nếu có đóng góp thực tế vào việc tạo lập, duy trì hoặc phát triển tài sản

Trường hợp khác cổ phần ban đầu thuộc sở hữu riêng nhưng trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc chồng còn lại có sự đóng góp đáng kể vào việc duy trì hoặc phát triển giá trị tài sản. Khi đó, không nên chỉ nhìn vào giấy tờ chứng minh cổ phần có trước hôn nhân mà bỏ qua toàn bộ quá trình hình thành giá trị tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

 

Ví dụ, một người có cổ phần riêng tại một công ty trước khi kết hôn nhưng sau đó hai vợ chồng cùng trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp, dùng nguồn lực chung để đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các giao dịch làm thay đổi đáng kể giá trị khoản đầu tư.

 

Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định khi chia tài sản chung phải xem xét những vấn đề sau:

 

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

…

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

 

Như vậy, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là vấn đề cần xác định khi giải quyết tranh chấp này. Tuy nhiên, cũng cần tránh suy nghĩ cứ có sự đóng góp của người vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân thì toàn bộ cổ phần riêng sẽ biến thành tài sản chung. Cần xác định rõ đóng góp đó tạo ra quyền sở hữu chung đối với cổ phần hay chỉ là căn cứ để xem xét quyền lợi tài sản của người có đóng góp.

 

 

Góc nhìn của luật sư: Phải xem xét nguồn gốc cổ phần thay vì chỉ nhìn vào giá trị hiện tại

Trong tranh chấp về cổ phần khi ly hôn, luật sư cần xác định được quá trình hình thành tài sản: cổ phần được mua khi nào, bằng nguồn tiền nào, số lượng bao nhiêu, có thay đổi số lượng trong thời kỳ hôn nhân hay không, có nhận cổ tức hay không và giá trị hiện tại được hình thành như thế nào và phải được thể hiện thông qua các văn bản, tài liệu cụ thể như: hợp đồng mua cổ phần, chứng từ thanh toán, sao kê tài khoản, hồ sơ cổ đông, nghị quyết của công ty, …

 

Vì vậy, trước khi đưa ra yêu cầu phân chia cổ phần hoặc giá trị tăng thêm của cổ phần, cần kiểm tra toàn bộ hồ sơ tài chính và quá trình biến động của khoản đầu tư. Chỉ khi xác định được nguồn gốc và quá trình hình thành giá trị, quyền lợi của mỗi bên mới có thể được đánh giá chính xác.

 

Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Mỗi tranh chấp đều có những tình tiết, chứng cứ và mục tiêu khác nhau. Vì vậy, trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc tài sản của mình, Quý khách nên đặt lịch làm việc với luật sư để hồ sơ được nghiên cứu đầy đủ. Trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ và yêu cầu cụ thể của Quý khách, luật sư sẽ đánh giá rủi ro, phân tích các phương án pháp lý và xây dựng chiến lược phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của Quý khách.

 

Để được tư vấn chuyên sâu và hỗ trợ kịp thời về các vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ BKCLAW theo các thông tin sau:

Điện thoại: 0901333341

Email: info@bkclaw.vn

VP Quận 1: Tầng 9 Tòa nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh

VP Bình Tân: 41 Tên Lửa, Phường An Lạc, Tp. Hồ Chí Minh

 

Facebook Comments Box

How useful was this post?

Click on a star to rate it!

Average rating 0 / 5. Vote count: 0

No votes so far! Be the first to rate this post.

Khuyến Cáo:

Các thông tin trên chỉ mang tính tham khảo. Vui lòng liên hệ để được biết thông tin chi tiết

Liên hệ
Hotline:0909 073 692

Tìm và liên hệ chúng tôi

Văn Phòng Quận Bình Tân

41 Tên Lửa, phường An Lạc, TP Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0909 073 692

Văn Phòng Quận 1

Tầng 9 Diamond Plaza 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0909 073 692

NHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Vui lòng để lại thông tin bên dưới. Luật BKC sẽ liên hệ ngay.
Form tư vấn VIE