Tầng 9 Tòa nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0901 333 341

|

DOANH NGHIỆP DO MỘT NGƯỜI ĐỨNG TÊN NHƯNG CẢ HAI VỢ CHỒNG CÙNG TẠO LẬP: KHI TRANH CHẤP, XÁC ĐỊNH QUYỀN LỢI RA SAO?

0
(0)

Một doanh nghiệp được thành lập trong thời kỳ hôn nhân, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ ghi tên người chồng. Người chồng trực tiếp điều hành, đứng tên phần vốn góp và cho rằng doanh nghiệp là tài sản của riêng mình. Trong khi đó, người vợ cho rằng số tiền ban đầu để thành lập doanh nghiệp là tiền chung của vợ chồng, đồng thời trong nhiều năm hôn nhân, cả hai cùng đóng góp công sức để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh.

 

Khi quan hệ hôn nhân phát sinh tranh chấp, vấn đề đặt ra là: Doanh nghiệp đứng tên một người thì người còn lại có quyền gì?

 

Đây là vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng cách nhìn vào tên người được ghi trên hồ sơ doanh nghiệp. Cần phân biệt giữa tư cách thành viên, cổ đông của doanh nghiệp với quyền tài sản của vợ chồng đối với phần vốn góp hoặc cổ phần được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Việc xác định đúng bản chất của nguồn vốn, quá trình đóng góp và giá trị thực tế của doanh nghiệp sẽ quyết định quyền lợi mà mỗi bên có thể được hưởng khi ly hôn.

DOANH NGHIỆP DO MỘT NGƯỜI ĐỨNG TÊN NHƯNG CẢ HAI VỢ CHỒNG CÙNG TẠO LẬP: KHI TRANH CHẤP, XÁC ĐỊNH QUYỀN LỢI RA SAO?

Doanh nghiệp thành lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ một người đứng tên: Có phải tài sản riêng?

Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

 

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

…”

 

Như vậy, về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Trong khi đó, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định những trường hợp tài sản được xác định là tài sản riêng như sau:

 

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

 

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

 

Do đó, nếu một doanh nghiệp hoặc phần vốn góp được hình thành trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền chung thì việc hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chỉ ghi tên một người không đương nhiên loại người còn lại khỏi quyền lợi tài sản.

 

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa doanh nghiệp và phần vốn góp/cổ phần của người vợ hoặc chồng trong doanh nghiệp.

 

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, doanh nghiệp là một chủ thể pháp lý độc lập. Tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty không đồng nghĩa với tài sản riêng của người đứng tên thành viên hoặc cổ đông. Điều cần xác định trong quan hệ vợ chồng thường là quyền tài sản đối với phần vốn góp hoặc cổ phần được hình thành bằng nguồn tài sản chung.

 

Nếu công ty đang sở hữu nhà xưởng, máy móc, hàng hóa, tài khoản ngân hàng và các tài sản khác thì không thể đơn giản chia từng tài sản của công ty cho vợ và chồng. Cần xác định quyền của vợ chồng đối với phần vốn hoặc cổ phần, sau đó mới xử lý quyền tài sản tương ứng.

 

Đứng tên thành viên, cổ đông không đồng nghĩa với việc toàn bộ phần vốn góp là tài sản riêng

Trong thực tế, tranh chấp không phải lúc nào cũng có chứng từ thể hiện người vợ hoặc người chồng đã chuyển tiền trực tiếp cho doanh nghiệp.

 

Có thể người vợ sử dụng tiền tiết kiệm chung để hỗ trợ chồng khởi nghiệp; người vợ đứng ra vay tiền; dùng tài sản gia đình để thế chấp; hoặc trực tiếp làm việc nhưng không nhận lương. Cũng có trường hợp một bên không trực tiếp kinh doanh nhưng đảm nhận toàn bộ việc gia đình, chăm sóc con cái, tạo điều kiện để bên kia tập trung xây dựng doanh nghiệp.

 

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định khi chia tài sản chung phải xem xét công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Vì vậy, đóng góp không nhất thiết chỉ được hiểu là khoản tiền có chứng từ chuyển vào tài khoản doanh nghiệp.

 

Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa cứ cùng sống trong thời kỳ hôn nhân thì mặc nhiên mỗi người sở hữu một nửa doanh nghiệp.

 

Cần xác định đóng góp nào tạo nên quyền tài sản, đóng góp nào là nghĩa vụ chung của đời sống gia đình và đóng góp nào chỉ có ý nghĩa khi Tòa án đánh giá công sức của mỗi bên trong quá trình phân chia tài sản.

 

 

Khi tranh chấp, cần xác định nguồn tiền, công sức đóng góp và giá trị thực tế của doanh nghiệp

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, cách xử lý cần tuân thủ đồng thời pháp luật hôn nhân và gia đình và pháp luật doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định cơ chế về thành viên, phần vốn góp, cổ phần và quyền của người có tư cách thành viên hoặc cổ đông.

 

Do đó, trong nhiều trường hợp, đối tượng cần phân chia không phải là toàn bộ tài sản đang đứng tên công ty mà là giá trị phần vốn góp hoặc cổ phần thuộc quyền tài sản của vợ chồng.

 

Ví dụ, người chồng đứng tên 70% vốn của một công ty trách nhiệm hữu hạn. Nếu có căn cứ cho rằng phần vốn này được hình thành từ tài sản chung của vợ chồng, người vợ có thể yêu cầu giải quyết quyền lợi đối với phần tài sản đó khi ly hôn. Nhưng điều này không đồng nghĩa người vợ đương nhiên có quyền lấy 35% tài sản đang thuộc sở hữu của công ty hoặc trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh.

 

Phương án giải quyết còn phải xem xét loại hình doanh nghiệp, Điều lệ công ty, quyền của các thành viên khác và khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp.

 

 

Góc nhìn của luật sư: Xác định đúng quyền tài sản nhưng không làm xáo trộn hoạt động doanh nghiệp

Khi giải quyết tranh chấp, luật sư không chỉ xác định ai có quyền đối với phần vốn góp mà còn phải đánh giá tác động của phương án phân chia đối với hoạt động doanh nghiệp. Trường hợp một bên đang trực tiếp điều hành, việc để bên đó tiếp tục quản lý phần vốn góp và thanh toán lại cho bên còn lại giá trị tài sản được hưởng có thể là phương án phù hợp, nếu đáp ứng quyền lợi của cả hai bên.

 

Vì vậy, mục tiêu không chỉ là chia tài sản mà còn phải xác định đúng quyền lợi của mỗi bên, bảo toàn giá trị phần vốn góp và hạn chế xáo trộn hoạt động doanh nghiệp.

 

Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Mỗi tranh chấp đều có những tình tiết, chứng cứ và mục tiêu khác nhau. Vì vậy, trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc tài sản của mình, Quý khách nên đặt lịch làm việc với luật sư để hồ sơ được nghiên cứu đầy đủ. Trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ và yêu cầu cụ thể của Quý khách, luật sư sẽ đánh giá rủi ro, phân tích các phương án pháp lý và xây dựng chiến lược phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của Quý khách.

 

Để được tư vấn chuyên sâu và hỗ trợ kịp thời về các vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ BKCLAW theo các thông tin sau:

Điện thoại: 0901333341

Email: info@bkclaw.vn

VP Quận 1: Tầng 9 Tòa nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh

VP Bình Tân: 41 Tên Lửa, Phường An Lạc, Tp. Hồ Chí Minh

 

Facebook Comments Box

How useful was this post?

Click on a star to rate it!

Average rating 0 / 5. Vote count: 0

No votes so far! Be the first to rate this post.

Khuyến Cáo:

Các thông tin trên chỉ mang tính tham khảo. Vui lòng liên hệ để được biết thông tin chi tiết

Liên hệ
Hotline:0909 073 692

Tìm và liên hệ chúng tôi

Văn Phòng Quận Bình Tân

41 Tên Lửa, phường An Lạc, TP Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0909 073 692

Văn Phòng Quận 1

Tầng 9 Diamond Plaza 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh

info@bkclaw.vn

0909 073 692

NHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Vui lòng để lại thông tin bên dưới. Luật BKC sẽ liên hệ ngay.
Form tư vấn VIE